Chuyển đến nội dung chính

Mướp hương – Wikipedia tiếng Việt


Mướp hương

Luffa aegyptiaca Blanco2.334-cropped.jpg

Mướp hương

Phân loại khoa học
Giới (regnum)
Plantae
Ngành (divisio)
Magnoliophyta
Lớp (class)
Magnoliopsida
Bộ (ordo)
Cucurbitales
Họ (familia)
Cucurbitaceae
Chi (genus)
Luffa
Loài (species)
L. cylindrica
Danh pháp hai phần

Luffa cylindrica
(L.) M.Roem.
Danh pháp đồng nghĩa[1]


  • Bryonia cheirophylla Wall.

  • Cucumis pentandrus Roxb. ex Wight & Arn.

  • Luffa acutangula var. subangulata (Miq.) Cogn.

  • Luffa aegyptiaca Mill.

  • Luffa aegyptiaca var. leiocarpa (Naudin) Heiser & E.E. Schill.

  • Luffa aegyptiaca var. peramara F.M.Bailey

  • Luffa cylindrica var. insularum (A.Gray) Cogn.

  • Luffa cylindrica var. leiocarpa Naudin

  • Luffa cylindrica var. minima Naudin

  • Luffa insularum A.Gray

  • Luffa leucosperma M.Roem.

  • Luffa pentandra Roxb.

  • Luffa petola Ser.

  • Luffa subangulata Miq.

  • Luffa sylvestris Miq.

  • Melothria touchanensis H. Lév.

  • Momordica carinata Vell.

  • Momordica cylindrica L.

  • Momordica luffa L.

  • Momordica reticulata Salisb.

  • Poppya fabiana K.Koch

  • Turia cordata Forssk. ex J.F Gmel.

  • Turia cylindrica Forssk. ex J.F Gmel.

  • Turia sativa Forssk.

Mướp[2] hay mướp ta, mướp hương,[3]mướp gối (danh pháp khoa học: Luffa cylindrica) là loài thực vật có hoa thuộc họ Bầu bí, được (L.) M.Roem. mô tả khoa học lần đầu năm 1846.[1] Đây là loài cây bản địa của Bắc Phi.





Quả mướp hương trên giàn

Mướp là một loại cây thảo dạng dây leo. Lá mọc so le, dạng tim, có 5-7 thùy có răng. Hoa đơn tính, các hoa đực tập hợp thành chùm dạng chùy, các hoa cái mọc đơn độc. Quả dài 25-30cm hay hơn, rộng 6–8 cm, hình trụ thuôn, khi già thì khô, bên trong có nhiều xơ dai.[4]



Quả chứa chất đắng, saponin, chất nhầy, xylan, mannan, galactan, lignin, mỡ, protein 1,5%. Trong quả tươi có nhiều choline, phytin, các acid amin tự do: lysin, arginin, acid aspartic, glycin, threonin, acid glutamic, alanin, tryptophan, phenylalanin và leucin.
Hạt chứa một chất đắng là cucurbitacin B, một saponin đắng kết tinh khi thuỷ phân cho acid oleonolic và một sapogenin trung tính; còn có một saponin khác[4].



Cây mướp hương được trồng để lấy quả xanh và được dùng như một loại rau, hoặc được trồng làm cảnh. Xơ từ quả chín được dùng làm vật cọ rửa. Mướp hương cũng được sử dụng trong đông y.



Bộ phận dùng[sửa | sửa mã nguồn]


Xơ mướp (retinervus Luffae Fructus), thường gọi là Ty qua lạc, Quả tươi (Fructus Luffae), thường gọi là Sinh ty qua. Lá, dây, rễ, hạt cũng được dùng[4].


Tính vị, tác dụng[sửa | sửa mã nguồn]


Tính vị[4]


  • Xơ Mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết thông lạc, lợi niệu tiêu thủng.

  • Lá Mướp có vị đắng, chua, hơi hàn; có tác dụng chỉ huyết, thanh nhiệt giải độc, hoá đàm chỉ khái.

  • Hạt Mướp có vị hơi ngọt, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, nhuận táo, sát trùng.

  • Dây Mướp có vị ngọt, tính bình; có tác dụng thông kinh hoạt lạc, chỉ khái hoá đàm.

  • Rễ Mướp có vị ngọt, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt giải độc.

  • Quả Mướp có vị ngọt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, lương huyết giải độc.

Công dụng[4]


  • Quả Mướp thường dùng ăn chữa được chứng đậu sởi, khỏi lở sưng đau nhức, lại kích thích sự tiết sữa ở các bà mẹ đang nuôi con và tăng cường sự tuần hoàn.

  • Xơ Mướp thường dùng trị gân cốt đau nhức, đau mình mẩy ngực sườn, bế kinh, sữa chảy không thông, viêm tuyến sữa, thuỷ thủng.

  • Lá dùng trị ho gà, ho, nắng nóng miệng khát; dùng ngoài trị vết thương chảy máu ghẻ lở, bệnh mụn.

  • Hạt dùng trị ho nhiều đờm, giun đũa, đái khó.

  • Dây Mướp dùng trị đau lưng, ho, viêm mũi, viêm nhánh khí quản.

  • Rễ dùng trị viêm mũi, viêm các xoang phụ của mũi.



  1. ^ a ă The Plant List (2013). “Luffa cylindrica. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017. 

  2. ^ Nguyễn Tiến Bân, Nguyễn Quốc Bình, Vũ Văn Cẩn, Lê Mộng Chân, Nguyễn Ngọc Chính, Vũ Văn Dũng, Nguyễn Văn Dư, Trần Đình Đại, Nguyễn Kim Đào, Nguyễn Thị Đỏ, Nguyễn Hữu Hiến, Nguyễn Đình Hưng, Dương Đức Huyến, Nguyễn Đăng Khôi, Nguyễn Khắc Khôi, Trần Kim Liên, Vũ Xuân Phương, Hoàng Thị Sản, Nguyễn Văn Tập, Nguyễn Nghĩa Thìn; Tên cây rừng Việt Nam; Nhà xuất bản Nông nghiệp - 2000; Trang 103.

  3. ^ Phạm Hoàng Hộ; Cây cỏ Việt Nam - tập 1; Nhà xuất bản Trẻ - 1999; Trang 569.

  4. ^ a ă â b c Mướp hương trên chothuoc24h.com



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Võ thuật trong tiểu thuyết Kim Dung – Wikipedia tiếng Việt

Võ thuật là một trong những nội dung chính trong các tác phẩm của Kim Dung. Dưới đây là danh sách các bộ võ công, sách võ thuật, chiêu thức, bí kíp võ thuật đáng chú ý. Ám nhiên Tiêu Hồn Chưởng là loại chưởng pháp kỳ lạ bậc nhất do Dương Quá sáng tạo nên trong 16 năm chờ đợi Tiểu Long Nữ, và cũng chỉ có mình chàng sử dụng được môn võ tương tư sầu khổ, vô cùng đau đớn tuyệt vọng này. Khi tâm trạng vui vẻ hạnh phúc, vô ưu vô lo thì bộ chưởng pháp này mất đi thần hiệu. Môn võ này được sáng tạo khi Dương Quá chỉ còn một tay nên lấy nội công làm gốc, không dùng các biến hóa đa đoan để thủ thắng. Nhiều chiêu thức trong Ám nhiên tiêu hồn chưởng được bắt nguồn từ các võ công mà Dương Quá đã biết, ví dụ như: Cửu Âm Chân Kinh, Nghịch Hành Kinh Mạch. Ảm nhiên tiêu hồn chưởng có 17 chiêu thức: Tâm Kinh Nhục Khiêu Khởi Nhân Ưu Thiên Vô Trung Sinh Hữu Đà Nê Đới Thủy Bồi Hồi Không Cốc Lực Bất Tòng Tâm Hành Thi Tẩu Nhục Đảo Hành Nghịch Thi Hồn Dại Mộng Oanh Phế Tẩm Vong Thực Cô Hình Chích Ảnh Âm Hận...

Cơ quan Tình báo Trung ương (Hoa Kỳ) – Wikipedia tiếng Việt

Cơ quan Tình báo Trung ương (tiếng Anh: Central Intelligence Agency ; viết tắt: CIA ) là một cơ quan tình báo quan trọng của Chính quyền Liên bang Hoa Kỳ, có nhiệm vụ thu thập, xử lí và phân tích các thông tin tình báo có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia của Hoa Kỳ từ khắp nơi trên thế giới, chủ yếu là thông qua hoạt động tình báo của con người (human intelligence viết tắt là HUMINT). Là thành viên chính thuộc Cộng đồng tình báo Hoa Kỳ (IC), CIA có nhiệm vụ phải báo cáo thông tin cho Giám đốc Tình báo Quốc gia và cũng đồng thời cung cấp các thông tin tình báo quan trọng cho tổng thống và nội các của Hoa Kỳ. [5] CIA có tổng hành dinh nằm ở Langley, Virginia, một vài dặm về phía Tây Thủ đô Washington, D.C. Nhân viên của cơ quan hoạt động từ các Đại sứ quán của Hoa Kỳ và nhiều địa điểm ở khắp thế giới. Không giống như FBI với nhiệm vụ đảm bảo an ninh trong phạm vi lãnh thổ Hoa Kỳ, CIA không có lực lượng thực thị pháp luật trong nước mà chủ yếu tập trung vào hoạt động thu thập thông tin tì...

Dãy Fibonacci – Wikipedia tiếng Việt

Dãy Fibonacci là dãy vô hạn các số tự nhiên bắt đầu bằng hai phần tử 0 và 1 hoặc 1 và 1, các phần tử sau đó được thiết lập theo quy tắc mỗi phần tử luôn bằng tổng hai phần tử trước nó . Công thức truy hồi của dãy Fibonacci là: F ( n ) := { 1 ,     khi  n = 1 ;     1 , khi  n = 2 ;     F ( n − 1 ) + F ( n − 2 ) khi  n > 2. {displaystyle F(n):=left{{begin{matrix}1,,qquad qquad qquad quad , ,&&{mbox{khi }}n=1,; \1,qquad qquad qquad qquad ,&&{mbox{khi }}n=2; ,\F(n-1)+F(n-2)&&{mbox{khi }}n>2.end{matrix}}right.} Xếp các hình vuông có các cạnh là các số Fibonacci Leonardo Fibonacci (1175 - 1250) Dãy số Fibonacci được Fibonacci, một nhà toán học người Ý, công bố vào năm 1202 trong cuốn sách Liber Abacci - Sách về toán đồ qua 2 bài toán: Bài toán con thỏ và bài toán số các "cụ tổ" của một ong đực. Henry Dudeney (1857 - 1930) (là một nhà văn và nhà toán học người Anh) nghiên cứu ở bò sữa, cũng đạt kết quả tương tự. Thế kỉ XIX, nhà toán học Edouard ...