Chuyển đến nội dung chính

Bọ chét chuột phương Đông – Wikipedia tiếng Việt


Bọ chét chuột phương Đông hay bọ chét chuột nhiệt đới hay (tên khoa học là Xenopsylla cheopis), là một loài côn trùng ký sinh trên các động vật gặm nhấm, chủ yếu là chuột, và đóng vai trò là vector của bệnh dịch hạch và sốt phát ban chuột. Sự lan truyền bệnh xảy ra khi bọ chét hút máu gặm nhấm, và sau đó hút máu người. Bọ chét chuột phương Đông được biết đến nhiều vì vai trò của nó trong reo rắc Cái chết Đen.





Bọ chét chuột phương Đông không có hàm răng lược ở hàm và ở ngực. Đặc điểm này được dùng để phân biệt với các loài bọ chét mèo, bọ chét chó và những loài bọ chét khác.

Chiều dài cơ thể của bọ chét chỉ vào khoảng một phần mười chiều dài của một inch (khoảng 2,5 mm). Cơ thể của bọ chét được chia làm ba phần: đầu, ngực, và bụng và có cấu trúc thích nghi với khả năng nhảy xa. Phần đầu và ngực có các hàng lông cứng và phần bụng có tám đốt nhìn thấy được.

Miệng của bọ chét có hai chức năng: thứ nhứt là tiêm nước bọt hoặc tiêu hóa một phần máu khi cắn, và thứ nhì là hút máu từ cơ thể ký chủ. Đây chính là cơ chế cơ học lan truyền mầm bệnh từ bọ chét. Bọ chét ngửi mùi carbon dioxide bốc ra từ người và các động vật rồi sau đó di chuyển nhanh chóng đến ký chủ mới để hút máu bằng cách nhảy. Bọ chét không có cánh và do đó không thể bay, tuy nhiên nó có khả năng nhảy trong một khoảng cách xa nhờ vào các đôi chân mạnh mẽ. Các chân của bọ chét gồm 4 phần. Phần gần nhứt đối với cơ thể gọi là coxa. Kế tiếp là femur, tibia và tarsus. Một con bọ chét có thể sử dụng các chân của nó để nhảy một khoảng cách gấp 200 lần chiều dài của cơ thể nó (khoảng 20 in/50 cm). Nó cũng có thể nhảy lên theo trục thẳng đứng một khoảng cách gấp 130 lần chiều cao cơ thể (khoảng 13 in/33 cm).



Con đực và con cái Xenopsylla cheopis

Vòng đời của một con bọ chét trải qua 4 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhứt là giai đoạn trứng. Trứng được bọ chét cái đẻ trong đất hay trong các hang ổ trên cơ thể ký chủ, nhưng sau đó thường sớm rơi xuống đất hay chỗ ở của ký chủ. Tùy theo nhiệt độ và độ ẩm của môi trường, trứng sẽ nở từ 1 đến 10 ngày sau đó cho ra ấu trùng có bề ngoài khá giống sâu dài 2 mm. Ấu trùng có đặc điểm là không có chân, cơ thể phủ đầy lông cứng, bộ phận miệng kiểu nhai. Trong giai đoạn này, ấu trùng không hút máu mà dinh dưỡng bằng cách ăn các tế bào da rơi rụng của ký chủ, phân bọ chét trưởng thành, và các sinh vật ký sinh khác sống trong đất. Khi con ấu trùng trưởng thành sẽ hóa kén phát triển thành nhộng và ẩn mình trong lớp đất xung quanh. Giai đoạn này kéo dài từ 1 tuần cho đến 6 tháng được gọi là biến thái. Khi nhộng lột xác thành bọ chét, nó bước vào giai đoạn cuối là giai đoạn trưởng thành. Trong giai đoạn này, bọ chét đi hút máu và giao phối với các con bọ chét khác. Một con bọ chét cái có thể chỉ giao phối một lần và đẻ 50 trứng một ngày trong quãng đời còn lại.

Các cuộc thí nghiệm đã chỉ ra nhiệt độ thích hợp để bọ chét phát triển tốt nhất là trong khí hậu khô với điều kiện nhiệt độ là trong khoảng 20–25 °C (68–77 °F).[2] Bọ chét có thể sống đến một năm và tồn tại trong nhộng suốt 1 năm nếu điều kiện không thuận lợi.



Bọ chét chuột là một trong những nguyên nhân chính gây ra đại dịch Cái chết Đen. Sinh vật này được thu thập tại Ai Cập lần đầu tiên bởi N. C. Rothschild cùng với Karl Jordan và được miêu tả vào năm 1903[3]. Tên bọ chét là cheopis theo tên Kim tự tháp Cheops.



Bọ chét chuột phương Đông đóng vai trò là vector trong bệnh dịch hạch, Yersinia pestis, Rickettsia typhi và cũng đóng vai trò là ký chủ của các loài sán dây Hymenolepis diminutaHymenolepis nana. Các bệnh này có thể được truyền từ thế hệ bọ chét này đến thế hệ tiếp theo thông qua trứng.[4]





Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Võ thuật trong tiểu thuyết Kim Dung – Wikipedia tiếng Việt

Võ thuật là một trong những nội dung chính trong các tác phẩm của Kim Dung. Dưới đây là danh sách các bộ võ công, sách võ thuật, chiêu thức, bí kíp võ thuật đáng chú ý. Ám nhiên Tiêu Hồn Chưởng là loại chưởng pháp kỳ lạ bậc nhất do Dương Quá sáng tạo nên trong 16 năm chờ đợi Tiểu Long Nữ, và cũng chỉ có mình chàng sử dụng được môn võ tương tư sầu khổ, vô cùng đau đớn tuyệt vọng này. Khi tâm trạng vui vẻ hạnh phúc, vô ưu vô lo thì bộ chưởng pháp này mất đi thần hiệu. Môn võ này được sáng tạo khi Dương Quá chỉ còn một tay nên lấy nội công làm gốc, không dùng các biến hóa đa đoan để thủ thắng. Nhiều chiêu thức trong Ám nhiên tiêu hồn chưởng được bắt nguồn từ các võ công mà Dương Quá đã biết, ví dụ như: Cửu Âm Chân Kinh, Nghịch Hành Kinh Mạch. Ảm nhiên tiêu hồn chưởng có 17 chiêu thức: Tâm Kinh Nhục Khiêu Khởi Nhân Ưu Thiên Vô Trung Sinh Hữu Đà Nê Đới Thủy Bồi Hồi Không Cốc Lực Bất Tòng Tâm Hành Thi Tẩu Nhục Đảo Hành Nghịch Thi Hồn Dại Mộng Oanh Phế Tẩm Vong Thực Cô Hình Chích Ảnh Âm Hận...

Cơ quan Tình báo Trung ương (Hoa Kỳ) – Wikipedia tiếng Việt

Cơ quan Tình báo Trung ương (tiếng Anh: Central Intelligence Agency ; viết tắt: CIA ) là một cơ quan tình báo quan trọng của Chính quyền Liên bang Hoa Kỳ, có nhiệm vụ thu thập, xử lí và phân tích các thông tin tình báo có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia của Hoa Kỳ từ khắp nơi trên thế giới, chủ yếu là thông qua hoạt động tình báo của con người (human intelligence viết tắt là HUMINT). Là thành viên chính thuộc Cộng đồng tình báo Hoa Kỳ (IC), CIA có nhiệm vụ phải báo cáo thông tin cho Giám đốc Tình báo Quốc gia và cũng đồng thời cung cấp các thông tin tình báo quan trọng cho tổng thống và nội các của Hoa Kỳ. [5] CIA có tổng hành dinh nằm ở Langley, Virginia, một vài dặm về phía Tây Thủ đô Washington, D.C. Nhân viên của cơ quan hoạt động từ các Đại sứ quán của Hoa Kỳ và nhiều địa điểm ở khắp thế giới. Không giống như FBI với nhiệm vụ đảm bảo an ninh trong phạm vi lãnh thổ Hoa Kỳ, CIA không có lực lượng thực thị pháp luật trong nước mà chủ yếu tập trung vào hoạt động thu thập thông tin tì...

Dãy Fibonacci – Wikipedia tiếng Việt

Dãy Fibonacci là dãy vô hạn các số tự nhiên bắt đầu bằng hai phần tử 0 và 1 hoặc 1 và 1, các phần tử sau đó được thiết lập theo quy tắc mỗi phần tử luôn bằng tổng hai phần tử trước nó . Công thức truy hồi của dãy Fibonacci là: F ( n ) := { 1 ,     khi  n = 1 ;     1 , khi  n = 2 ;     F ( n − 1 ) + F ( n − 2 ) khi  n > 2. {displaystyle F(n):=left{{begin{matrix}1,,qquad qquad qquad quad , ,&&{mbox{khi }}n=1,; \1,qquad qquad qquad qquad ,&&{mbox{khi }}n=2; ,\F(n-1)+F(n-2)&&{mbox{khi }}n>2.end{matrix}}right.} Xếp các hình vuông có các cạnh là các số Fibonacci Leonardo Fibonacci (1175 - 1250) Dãy số Fibonacci được Fibonacci, một nhà toán học người Ý, công bố vào năm 1202 trong cuốn sách Liber Abacci - Sách về toán đồ qua 2 bài toán: Bài toán con thỏ và bài toán số các "cụ tổ" của một ong đực. Henry Dudeney (1857 - 1930) (là một nhà văn và nhà toán học người Anh) nghiên cứu ở bò sữa, cũng đạt kết quả tương tự. Thế kỉ XIX, nhà toán học Edouard ...